Khó xử lý quảng cáo thực phẩm trên mạng xã hội

Mặc dù đã được Chính phủ quan tâm nhưng đầu tư chi phí cho công tác quản lý an toàn thực phẩm còn rất thấp…

Đó là 1 hạn chế trong thực thi chính sách bán hàng pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm, được nêu ở báo cáo Chính phủ vừa gửi đến một vài vị đại biểu Quốc hội.

Năm 2017, Quốc hội đã tiến hành giám sát tối cao về tình hình thực thi chính sách bán hàng pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm GĐ 2011- 2016.

Nhiều chuyển biến

Theo phân tích chung của Chính phủ thì sau giám sát của Quốc hội, tình hình an toàn thực phẩm đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Cụ thể là nhận thức, ý thức của người dân về an toàn thực phẩm tăng rõ rệt, nhiều chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn đã phát triển ở một vài tỉnh, thành có phương thức kiểm soát an toàn thực phẩm hiện đại, tiếp cận được có một vàih kiểm soát thực phẩm xuất khẩu đến một vài phân khúc phát triển.

Một số tỉnh/đô thị lớn đang tìm hiểu, tiến hành triển khai mô hình thí điểm về thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tuyến quận/huyện, xã/ phường như Hà Nội, Tp. HCM và thí điểm thành lập ban quản lý an toàn thực phẩm như Đà Nẵng, Tp.HCM, Bắc Ninh…

Chính phủ khằng định, tình hình ngộ độc thực phẩm đang được kiểm soát, giảm nhiều về số vụ, số mắc so có năm 2016.

Năm 2017, toàn quốc ghi nhận 148 vụ ngộ độc thực phẩm làm 4.087 người mắc, 3.908 người đi viện và 24 trường hợp tử vong. So có năm 2016, số vụ giảm 26 vụ (14,9%), số mắc giảm 467 người (10,3%), số đi viện giảm 70 người (1,8%), tuy nhiên số tử vong tăng 12 người.

Nguyên nhân tử vong tăng chủ yếu là do ngộ độc methanol trong rượu (11 người), độc tố môi trường xung quanh (10 người, do cóc, cá nóc, so biển), 3 trường hợp còn lại chưa xác định được lý do.

Còn đùn đẩy trách nhiệm

Bên cạnh chuyển biến tích cực, báo cáo cũng đề cập không ít hạn chế.

Như, việc tìm hiểu và thực thi hệ thống pháp luật ở địa phương còn chưa đạt đề nghị. Ở nhiều địa phương mặc dù tổ chức thanh, kiểm tra nhiều nhưng mật độ xử lý thấp, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, vẫn còn có sự đùn đẩy trách nhiệm giữa một vài ngành có liên quan.

Hạn chế thứ hai là tình hình buôn lậu thực phẩm qua biên giới còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt đối có một vài thực phẩm sinh lời cao như thực phẩm công dụng rất dễ dẫn đến làm giả và buôn lậu. Thực phẩm không rõ lý do xuất xứ; vi phạm về chất lượng, hết hạn sử dụng…chưa được được kiểm soát nghiêm ngặt, đang có nguy cơ đưa vào tiêu thụ ở một vài chợ truyền thống, vùng sâu, vùng xa.

Tình trạng làm giả pháp lý của cơ quan tổ chức về lĩnh vực thực phẩm được một vài đối tượng thực hiện rất tinh vi, một vài cơ quan công dụng khó kiểm soát.

Đáng chú tâm, báo cáo nêu, việc chấp hành một vài quy định về quảng cáo thực phẩm đã có chuyển biến tích cực so có trước đây. Tuy nhiên, việc quản lý quảng cáo trên mạng xã hội (facebook, youtube…), trang tài liệu điện tử có tên miền từ nước ngoài gặp nhiều gặp khó trong quản lý nội dung quảng cáo, không xác định được chủ thể quảng cáo vi phạm và không có cơ sở để xử lý vi phạm.

Đặc biệt, 1 số website chủ thể đặt máy chủ ở nước ngoài nên cơ quan quản lý nhà nước khó kiểm soát, khó xử lý, thẩm quyền xử lý đối có cơ sở phát hành quảng cáo như báo, đài, website chủ yếu là Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Công an.

Vẫn nằm trong hạn chế là tình hình ngộ độc thực phẩm còn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát đối có một vài vụ ngộ độc thực phẩm ở bữa ăn bếp ăn trường học, ngộ độc thực phẩm ở đám cưới, do độc tố môi trường xung quanh (nấm độc, cá nóc, cóc…) và đặc trưng là ngộ độc methanol trong rượu. Ngộ độc ở bếp ăn tập thể khu công nghiệp trường học vẫn có xu hướng tăng và khó kiểm soát.

Phân tích lý do chủ quan, Chính phủ nêu rõ, nhận thức của 1 số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, lãnh đạo quản lý về vai trò của an toàn thực phẩm chưa đầy đủ, lực lượng thực thi một vài nhiệm vụ quản lý nhà nước còn yếu kém. Nhận thức, ý thức trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng về công tác chắc chắn an toàn thực phẩm còn hạn chế.

Mặc dù đã được Chính phủ quan tâm nhưng đầu tư chi phí cho công tác quản lý an toàn thực phẩm ở còn rất thấp.

Kinh phí GĐ 2001 – 2005 chỉ bằng 1/25 của Thái Lan (Thái Lan là 1USD/người/năm; Việt Nam là 780 đồng/người/năm). Giai đoạn 2006 – 2010 chi phí được tăng lên dao động 1.600 đồng/người/năm, năm 2014 chi phí lại bị cắt giảm 60% so có năm 2013, do vậy GĐ 2011- 2015 bình quân đầu người mới chỉ đạt dao động 2.800 đồng/người/năm, trong khi ở Bắc Kinh mỗi năm đô thị chi trên 100.000 đồng/người).

Bạn đang xem chuyên mục Blog q7saigonriverside.qov.vn